Xử lý nước thải dầu mỏ

Tư Vấn – Thiết Kế – Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công nghệ Hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ Tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,Thành phố Cần Thơ, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.

Giá: Liên hệ

Bạn đang cần tìm Công Ty Tư Vấn – Thiết Kế – Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công nghệ Hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ ? Tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,Thành phố Cần Thơ, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.

Công Ty TNHH Công Nghệ TKT là công ty hàng đầu tại khu vực Phía Nam và Tây Nguyên trong lĩnh vực Xử Lý Nước Thải và Xử Lý Nước Cấp. Với đội ngũ Kỹ sư, Kỹ thuật ngành Môi trường chuyên Tư vấn, Thiết Kế, Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị Công trình Hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ. TKTTECH tự hào là đơn vị được các nhà máy sản xuất dầu khí tại khu vực phía Nam hợp tác.

Tư vấn, Thiết kế, Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công nghệ hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ tại Cần Thơ

Tư vấn, Thiết kế, Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công nghệ hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ tại Cần Thơ

Công nghiệp sản xuất dầu mỏ

a. Sản xuất dầu mỏ

Nước từ mỏ hay nước sản xuất đưa đến từ thiết bị tách ba pha của dầu thô được loại bỏ dầu sơ bộ (bằng xiclồn hay thiết bị tách tầng) sau đó được xử lí cuối cùng phụ thuộc vào mục đích sử dụng chúng.

Thải hoàn toàn ra biển

Tuyển nổi cơ học (hyđrôcacbua < 40mg/l), tuyển nổi bằng không khí hoà tan hay làm keo tụ (< 10mg/l).

Phun trở lại

Có thể khử khí và lọc trên cát. Phun trở lại rất được ưa chuộng vì nó tránh được sự có mặt của vi khuẩn khử sunphat và sự không tương hợp hoá học với

b. Vận chuyển nước lần đầu mỏ

Nước thải được chuyển với lưu lượng lớn đến bể tập trung gian ở mặt đất và tiếp tục được lấy ra một lưu lượng thích hợp đưa đến hệ thống xử lí và sau đó thải ra biển. Do nước được giữ lại trong một vài ngày, nên chúng được lắng và dây chuyền xử lí đơn giản gòn:

– Một thiết bị loại bỏ dầu sơ bộ bảo đảm an toàn làm giảm các định ô nhiễm HC (mặt phân cách của bé);

– Tuyển nói bằng không khí hoà tan với chất làm động lự hữu cơ loại KEMAZUR

Xử lí bổ sung loại bỏ DB), hay các vết phenon rất ít khi cần thiết, nhưng có thể dự kiến việc lọc.

Trong trường hợp làm sạch kiêm của các két chứa, ô nhiễm dạng nhũ rất tới. Việc hiệu chỉnh độ pH là cần thiết, nó có thể dùng một chất kết tụ vô cơ hay đảm bảo kết tụ FeS. Hệ thống gồm hai lò phản ứng thay thế cho một lò.

c. Lọc dầu

Cách thải siu thay đổi tuỳ theo bản chất và kích thước nhà máy lọc dầu. THình 957 là sơ đồ bố trí thường dùng để tách loại nước thải, trong đó ta tìm cách để tuần hoàn lại nước ít muối ở điểm bổ sung nước cho chu trình lạnh.

– Nước mưa chứa dầu, có lưu lượng lớn và rất khác nhau được chứa vào bị nước mưa và được xử lí loại bỏ đầu bằng lọc hay tuyển nổi. Tuỳ theo nông độ BOD, hoà tàn và phứnon, chúng có thể được làm sạch theo phương pháp

d. xử lý Xút thải dầu mỏ

Nước thải thể tích nhỏ có lượng sunphua đáng kể và phénon, chúng cần được xử lí riêng biệt để khử hợp chất chứa lưu huỳnh và loại bỏ phênon.

Khử hợp chất chứa lưu huỳnh được đảm bảo bằng:

– Axit hoá đến pH 3-4 và thay thế H,S giải phóng ra bằng một khí trung hoà. Đây là phương pháp có hiệu quả.

– Ôxy hoá trong môi trường khí quyển và có chất xúc tác kim loại, ôxy hoá hoàn thành đến giai đoạn S,O

– Ôxy hoá bằng ôxy hay không khí dưới áp suất cao (15/20bar) và nóng. Việc ôxy hoá này kết thúc ở giai đoạn đến SOC và có liên quan một phần ở nhiệm hữu cơ.

Ôxy hoá ở các giai đoạn trung gian có thể làm kết tủa lưu huỳnh dạng keo trong khi trung hoà lần cuối hoặc ăn mòn trong lò phản ứng áp suất cao.

Loại bỏ phenon thực hiện bằng chiết tách trong dung môi không tái sinh (LCD), nếu nồng độ phenon cao (hình 963), hay đơn giản hơn bằng làm sạch sinh học sau khi pha loãng trong nước thải chung, nếu nhà máy có trang bị đủ thiết bị.

Sơ lược về dầu mỏ và xử lý ô nhiễm nước thải dầu mỏ

Tư vấn, Thiết kế, Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công nghệ hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ

Tư vấn, Thiết kế, Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị công nghệ hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ

Dầu mỏ là chất lỏng sánh, thường có mùi đặc trưng, nhẹ hơn nước và không tan trong nước.

– Trong dầu mỏ có tới hàng trăm loại cacbuahidro (hay hidrocacbon) khác nhau đại diện cho nhiều loại cấu trúc hóa học riêng biệt. Chỉ tính xăng là hỗn hợp hidrocacbua dầu mỏ tinh chế, đã có 200 chất khác nhau ở tỉnh bay hơi, tính hòa tan, tính hấp thụ.

Thành phần cơ bản của dầu mỏ gồm:

+ Hidrocacbua mạch thẳng 30 – 35%;

+ Hidrocacbua mạch vòng 25 – 75%;

+ Hidrocacbua thom 10 – 20%; .

– Ngoài ra còn có hợp chất chứa oxi (axit, xeton, rượu…), hợp chất nitơ (furol, indol, carbazol), hợp chất chứa lưu huỳnh (hắc ín, nhựa đường, bitum)..

Dầu mỏ ở các vùng khác nhau có thành phần hóa học khác nhau. Phân loại chúng dựa trên cơ sở thành phần parafin, hidrocacbua thơm hay hidrocacbua phân cực.

Dầu thô của Việt Nam thuộc loại dầu trung bình nặng, nhiều Parafin (20 – 30%) và ít lưu huỳnh.

Trong dầu mỏ còn phát hiện thấy khá nhiều đồng phân của hidrocacbua từ Có đến Cg. Nhưng tóm lại, người ta coi dầu mỏ là hỗn hợp 3 loại chất của hidrocacbua: hợp chất mạch thẳng – alphatic, hợp chất mạch vòng thơm – aromatic và hợp chất nhựa đường – asphatic.

Các hợp chất trong dầu mỏ, mỗi loại hợp chất, do một vài loài hoặc nhiều loài vi sinh vật oxi hóa hay phân hủy. Các vi sinh vật oxi hóa dầu mỏ (chủ yếu là vi khuẩn) theo các đường khác nhau.

Các alkan (hidrocacbua nó mạch thẳng) thường bị phân hủy thông qua sự oxi hóa đầu tận cùng.

Trình tự các bước sau bao gồm sử dụng oxi phân tử để tạo thành rượu bạc 1, sau đó tạo thành aldehit và axit cacboxilic có số cacbon giống như chuỗi cacbon ban, đầu.

Phần giải tiếp theo từ axit cacboxilic tạo thành monocacboxilic axit có số cacbon ít hơn số cacbon ban đầu là 2C và 1 phân tử CH – SCoA, sau đó chuyển thành CO2. Các hợp, chất phân nhánh cao bị oxi hóa thành rượu bậc 2.

Quá trình oxi hóa hoàn toàn alkan thành CO2 do vi khuẩn tiết enzim cacbomonoxit debidrogenaza.

Con đường trao đổi chất từ có chất là cacbuahidro của dầu mỏ khá phức tạp. Mức độ phân hủy sinh học của từng loại dầu phụ thuộc vào bản chất và kích thước phân tử của từng cacbuahidro tạo nên chúng.

Alkan có mạch từ Có – C14 được phân hủy nhanh nhất. Các alkan chuỗi ngắn hơn hầu hết có độc tính với vi sinh vật, nhưng lại để mất do quá trình bay hơi.

Chuỗi cacbon dài hơn rất khó bị phân hủy, còn cacbon ở mạch nhánh làm chậm tốc độ phân hủy.

Các hợp chất thơm, đặc biệt là các hợp chất đa nhân bị phân hủy chậm hơn alkan nhiều.

Các vi sinh vật có khả năng phát triển trên hexan vòng phải thực hiện tất cả các phản ứng phân hủy kể trên. Nhưng trong thực tế thường gặp các vi sinh vật có khả năng chuyển vòng hexan thành vòng cyclo hexanon nhưng không có khả năng lacton hóa và mở mạch vòng.

Sau đó các hợp chất hữu cơ vòng thơm bị dihydroxyl hóa nhờ cắt ở vị trí octo tạo ra axit muconic và bị oxi hóa tiếp thành axit xetoadipic, oxi hóa tiếp theo thành axit sucxinic và axetyl – CoA; vào con đường B – oxi hóa thành axit formic, piruvic và axetaldehyt.

Các hợp chất đa vòng cũng bị phân hủy nhờ dihidroxil hóa và bị gãy một trong các vòng thơm. Vòng thơm đã mở sẽ bị oxi hóa đến axit piruvic và CO2. Vòng thơm thứ hai cũng bị phân hủy tương tự như thế.

Mức độ phản hủy hidrocacbua nhờ vi sinh vật được xếp theo thứ tự: n – alkan > alkan mạch nhánh 2 hợp chất mạch vồng có trọng lượng phân tử thấp > alkan mạch vòng.

Vấn để chống ô nhiễm môi trường do dầu mỏ đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, nhất là những nước có nền công nghiệp dầu khí phát triển.

Các giàn khoan có thể hàng ngày làm rò rỉ và đổ chất thải ra bên ngoài tới 1% số lượng dầu khai thác.

Ngoài chuyện rò rỉ còn do thấm tự nhiên ở các kho chứa, sự cố tràn dầu, vận chuyển và bảo quản không tốt, xả nước rửa tàu bừa bãi… cùng các tai nạn vỡ tàu, đấm tàu trên biển.

Thế giới đã chứng kiến nhiều vụ dầu tràn gây ô nhiễm biển, ô nhiễm và phá hủy hệ sinh thái của cả một vùng rộng lớn tới hàng trăm ngàn hecta và có tới 260.000 tấn thủy hải sản bị tử vong.

Ở nước ta đã có nhiều vụ tràn dầu do tàu đâm phải nhau làm hơn trăm ngàn hecta nước biển bị ô nhiễm. Các kho chứa dầu chưa được trang bị hiện đại nên dầu, mỡ cũng bị rò rỉ ra ngoài, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, gây tác hại tới sức khỏe con người.

Trong thực tế, các thành phần của dầu mỏ và khí đốt là các hợp chất hữu cơ khó bị vị sinh vật phản hủy. Người ta đã tìm thấy nhiều loài vi khuẩn thuộc các giống Pseudomonas, Alcaligenes, Nocardia, Microccus có khả năng phân hủy Xăng dầu. Ngoài ra còn thấy các loài của các giống Achromobacter, AcinetobacterAlcaligenes, Arthrobacter, Bacillus, Flavobacterium… cũng có hoạt tính này.

Ở Việt Nam (theo nghiên cứu của một số tác giả) đã phát hiện có một số loài vi khuẩn sử dụng được cacbuahidro trong đó chủ yếu là Pseudomonas, Microbacterium, Micrococcus, Bacillus .

Trong điều kiện kị khí còn tìm thấy vi khuẩn khử sulfat gram âm là Desulfovibrio có khả năng sử dụng dầu.

Vi sinh vật trong môi trường có dầu mỏ, với điều kiện thích nghi chúng có thể “ăn” được dầu mỏ (nói chính xác hơn là các vi sinh vật sử dụng các hợp phẳn dầu mỏ là cơ chất dinh dưỡng nguồn cacbon).

Như vậy, chúng dùng 1 phần cơ chất là dầu mỏ để xây dựng tế . bảo đồng thời phân hủy các thành phần dầu mỏ đến CO2.

Quá trình phân hủy hay oxi hóa các chất hữu cơ của dầu mỏ qua một chặng dài chuyển hỏa, ôxi hóa đến piruvic axit – chất trung gian cơ bản trong các quá trình trao đổi chất của tế bào vi sinh vật.

Tiếp theo là các công trình xử lí sinh học nước thải dầu mỏ là biến đổi hóa sinh các chất dinh dưỡng như xử lí sinh học bình thường khác.

Các nguồn nước thải dầu mỏ và ô nhiễm dầu mỏ

Ngày nay ô nhiễm dầu mỏ là tương đối phổ biến và khá độc hại, gây ảnh hưởng xấu tới , môi trường sống của chúng ta.

Có 4 nhóm xí nghiệp hoạt động và sinh ra nước thải có ô nhiễm dầu mỏ đặc trưng là:

– Khoan và khai thác dầu. Nước thải của nhóm xí nghiệp này là từ nước sản xuất và cặn bùn khoan. Ở ngoài thêm lục địa, giàn khoan và nước thải ít gây ảnh hưởng xấu so với trên đất liền.

– Vận chuyển dầu thô và các sản phẩm đã chế biến từ dầu; do dầu tràn, rớt ra khỏi tàu . chở dầu hoặc nước dưới hầm tàu xả ra bến cảng, hoặc tẩu bị vỡ trên đường vận chuyển.

– Các nhà máy lọc dầu: nước từ các công đoạn công nghệ, đặc biệt ở công đoạn cracking. Trong nước thải của nhà máy này có nhiều xút, nhiều hóa chất khác, so, R – SH, phenol… ” Các chất ô nhiễm từ 3 nhóm xí nghiệp trên chủ yếu là hidrocacbua.

Trong đó các chất : hữu cơ hòa tan (hợp chất chứa oxi, phenol, aldehyt…) tăng dần trong quá trình cracking, mức độ tinh khiết của dầu thô nặng và chứa nhiều phospho tăng tỉ lệ với lượng nước thải chứa sulfit.

– Công nghiệp hóa dầu. Có 3 loại xí nghiệp hóa dầu liên hợp sản xuất khí tổng hợp, liên hợp olefin, liẻn hợp chất thơm.

Nước thải của các nhà máy này ô nhiễm từ nguồn nguyên liệu thô, các dung môi, các chất xúc tác và bản thân các polime ở trạng thái lơ lửng hoặc nhũ tương.

Xử lý nước thải dầu mỏ khu vực Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh

Xử lý nước thải dầu mỏ khu vực Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh

Xử lý Nước thải của công nghiệp lọc dầu

Các chất thải của ngành công nghiệp lọc dầu có thể chia thành các loại sau:

– Chất thải từ công đoại hút dầu từ các giảng dấu.

– Chất thải từ công đoạn lọc dầu.

– Chất thải từ công nghiệp hoá dầu.

– Chất thải từ các trạm chứa dầu.

a) Xử lý Nước thải từ giếng dầu

Dầu thô được đưa lên mặt đất thông qua các giếng dầu được khoan xuống lòng đất. Các mỏ dầu thường có lẫn cả nước muối và khỉ.

Những thứ này được tách ra trong các nổi cất; các loại khí sau đó được cất để sử dụng, dầu được đựng trong các thùng, và nước muối thì lọc tách và đổ trở lại lòng chất, hoặc qua một công đoạn xử lý chuyển thành nước hữu ích.

Các giếng dầu thường có nhiều loại nước thải: nước muối, bùn từ giai đoạn hút dầu, nước ta, nước rửa và có cả nước vệ sinh.

Do vậy, đòi hỏi phải có ít nhất hệ thống lọc nước thải sau: hệ thống lọc chất thải dầu thiên nhiên, hệ thống lọc chất thải dầu; hệ thống lọc chất thải muối và hệ thống lọc chất thải vệ sinh.

Nước thải dưới lòng đất chứa cả muối Na, K, Ca, Fe, hắc ín, Co., HS, hydrocacbon và axit laptcnic. Lượng nước dưới lòng đất thường tạo động không đều nhau, phụ thuộc vào lớp dí, hệ thống khoa), v,v. Khối lượng nước lớn và có thể lên tới 90 % hoặc nhiều hơn số lượng dầu được hút lên.

Ngoài ra cũng có một lượng nhỏ nước thải từ các thùng lắng của các mũi khoán, từ quá trình làm sạch các côngtenơ chứa dầu, hoặc là từ các xưởng sản xuất, v.v.

b) Nước thải từ quá trình lọc dầu

Sản phẩm dầu thô của các nhà máy lọc dầu có chứa lượng parafin, 04[/talin và hydrocacbon thơm khác nhau thuộc vào gốc của nó. Vì vậy dầu thô được chia thành:

– Dầu có nhiều prafin.

– Dầu có nhiểu napalin.

– Dầu hỗn hợp.

Lượng lưu huỳnh của dầu thủ khác nhau theo gốc của nó từ 0,4% đến 4% trọng lượng. Lưu huỳnh, có thể kết hợp với một phần hữu cơ hoặc vỏ cơ, thường ảnh hưởng đón các quy trình xử lý lọc cẩu và đồng thời có tác động đảng kẻ đến thành phần và cách xử lý các chất thải lọc dầu.

Lượng nước của dầu thô thu được từ quá trình lọc dầu chiên từ 0,1 đến 0,5% trọng lượng. Do dầu thô cất trữ trong bể lọc dầu du lớn nên nước sẽ tách ra nhiều hơn.

Lượng nước: này sẽ được chứa trong các thùng và được hâm nóng để phá hủy việc tạo ra nhũ tương, nhằm đẩy nhanh quá trình lọc. Quá trình tinh lọc dầu có thể được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất là chưng cất lui, giai đoạn này sẽ tạch rấI Các chất cặn bã nung. các sản phẩm chưng cất trung gia) và các sản phẩm chính là xăng và khí, ví dụ như butài và Propan.

Giai đoạn thứ hai là quá trình tich lọc (bằng các quá trình nhiệt và xúc tác), giai đoạn này đặc biệt để thu các sản phẩm chưng cất trung gian và các sản phẩm chính. Các nhà máy lọc dầu thường sử dụng các quy trình sản xuất làm sao duy trì được lượng nước thải và tải trọng ở nhiễm thấp. Nước thải phụ thuộc vào chất lượng dầu, loại sản phẩm và các quy trình sản xuất. Chính vì thế nên không thể đưa rét dược một tổng kết chung về các chất thải. Quy trình tinh lọc càng kỹ thì các chất ô nhiểm có hại sẽ được chuyển vào nước thải. Nước thải bắt nguồn từ các điểm sau:

– Các nhà máy tách nước dầu thủ khi sử dụng máy ly tâm hoặc quá trình khi mới bằng điện sinh một dòng thực chất tạo ra dầu lửa lẫn nước cũng như axit hữu cơ, muỗi, pherol, v,v.

– Nhà máy chưng cất sử dụng hơi nước sẽ tạo ra sản phẩm có độc với các thành phần phát huy có thể hoà tan như axit béo, hydro sunfua, mercaptan, v.v…

– Nhà máy cruicking tạo ra dòng chảy chứa các thành phần hợp nhất có thể hoi tái xuất giá từ quá trình xử lý áp suất nhiệt tu thị; những thành phần này chủ yếu là axit béo, hyđro sunfua, lierci1pt an,v,v,

– Trong quy trình tinh lọc dầu hoá, dầu khí vì dầu lửa sẽ có các loại trúc rửa từ quá trình xử lý kiểm và exit. Các loại axit vô cơ và kiếm như axit sunfu to và xúc ăn da, và chắc chất hữu cơ mà chủ yếu là axit niptenic và phenol

– Nhà máy “unisol” nơi mà cháu nó được xử lý để loại bỏ hoàn toàn các chất gây ô nhiễm sẽ tạo ra lòng bị cô nhiễm lặng các chất mercaptai và phenol.

– Trong các nhà máy xử lý và hoàn tất, các chất thải chưa một lượng lớn dâu và các chất hoà tan khác như furtural, axett J7, 11ydro Surifia và các chất phản huỷ, nhũ tươing dấu, nhựa và các chất tương tự.

– Các chất thải từ các nhà máy tải xử lý và các nhà máy khác (c: biệt từ các nhà máy sản xuất các sản phẩm dầu cá thể chứa chủ yêu là nhũ tượng lâu vì dầu, cùng với những chất hữu cơ khác.

Khối lượng nước thải phụ thuộc hoàn toàn vào chủng loại dầu thô được sử dụng. Theo thông tin chung của nước ngoài thì vào khoảng 17m nước thải trên một tấn dầu thô, trong khi đó ở một nhà máy lọc dầu khác, dùng dầu thỏ Mêhicô, chỉ có từ 3 – 3,5 montresc thải trả tốt tinh dầu thô.

Có ba tác nhân làm mát chủ yếu được sử dụng trong các nhà máy lọc dấu:

– Nước trong một hệ thống mở.

– Nước trong một hệ thống động.

– Không khí.

Có sự khác biệt rất lớn trong tiêu thụ nước giữa các hệ thống khác nhat , Nước làm lạnh hình thành nên phần lớn lượng nước thải của một nhà máy lọc dầu. Nước ngưng tụ thường nằm trong lượng nước làm lạnh.

Chúng bao gồm các chất thải từ các bình ngưng khí áp trong chưng cất chân không dấu đun thống. Cả nước làm lạnh và nước ngưng tụ thường bị ô nhiễm các phần tử dầu.

Trong các hệ thống làm lạnh kín, khi nước được sử dụng một vài lần thì nó sẽ chứa cả muối khoáng.

Nước mưa cũng bị ở nhiễm dầu ở mức độ khác nhau từ trung tâm xăng dầu. các nhà máy bơm mỡ, đường ống dẫn dầu bị thủng và các nhà máy xử lý dầu.

Các chất thải vệ sinh và phân trong các nhà máy lọc dầu chứa lượng dầu lớn hơn bình thường do rửa tay chân, mặt, quấn áo dinh dầu chúng cũng được thải ra và lọc giống như các loại chất thải vệ sinh khác,

Xử lý nước thải dầu mỏ ở Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng

Xử lý nước thải dầu mỏ ở Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng

c) Nước thải từ nhà máy hoá dầu

Trong ngành công nghiệp hoá dầu, chất khí lọc dầu hoặc khí cracking được xử lý thành các sản phẩm ancol, hoá chất nông nghiệp, casil, chất dẻo, vải vóc, chất tẩy, chất tan, thuốc trừ sâu và nhiều sản phẩm khác hoặc các sản phẩm trung gian.

Những thành phần quan trọng nhất của khí cracking là các olefin (etylen, propylen, butyle, butadien) và các hydrocacbon thơm (benzen). Các sản phẩm cracking dược: làm mát nhanh chóng và cô đặc lại.

Trong quá trình xử lý, hơi nước cũng được có đặc, các hợp chất hữu cơ, phenol, và cácbon disuitfua được phân giải. Những hợp chất này sẽ làm ô nhiễm nước thải. Các chất thải cũng xuất phát từ quá trình tinh lọc các vật liệu cơ bản và từ quá trình sản xuất các sản phẩm tinh.

Lượng nước thải lớn nhất là từ lượng nước làm mát. Các hệ thống thoát nước riêng lẻ rất cần thiết để tiến hành việc xử lý nước thải một cách kinh tế và hiệu quả. Ngoài ra còn phải kể đến các hệ thống tuần hoàn nước, sử dụng các hoá chất khác thay thế nước làm mát khí Cracking.

Các quy trình sản xuất khác không tạo ra chất thải có thể được sử dụng các hệ thống quay vòng nước trong các nhà máy làm lạnh hoặc sử dụng không khí thay nước làm mát, các sản phẩm chất thải cuối cùng sẽ được thu gom lại trước khi chúng tiếp xúc với nước và được phân huỷ bằng Các phương tiện khác.

Rất hiếm khi một nhà máy hoá dầu chỉ sản xuất một sản phằm duy nhất do đó các nhà máy lớn tiến hành nhiều quá trình xử lý, tạo ra nhiều chất thải.

Các chất thải trải qua quá trình xử lý nhỏ được tập trung và túi xử lý ngay tại nơi sản xuất trước khi chúng được trộn lẫn với chất thải từ quá trình lọc sinh học,

d) Nước thải chứa dầu từ các kho chứa dầu, các xưởng sản xuất và trạm

bản xăng dầu Các loại chất thải chứa dầu xuất phát từ trung tâm phân phối, xưởng sản Xuất, trạm bán xăng dầu, bể chứa xăng dầu và những nơi tương tự.

Chúng có thể chứa dầu hoi và các loại nhiên liệu khác nữa. Các chất thải có chứa dầu có thể không được xử lý trong các hệ thống cống rãnh, bởi vì chúng rất độc hại đối với các công nhân vệ sinh cống rãnh và nguồn nước sinh hoạt. Chúng chứa hydrocacbon, chất rất dễ tách ra và được sử dụng trong các nhà máy sản xuất và khôi phục tiểu đặc biệt.

Thật là nguy hiểm khi một lượng dầu lớn? đi vào lượng nước ngủ, nước bể mặt từ các vụ tai nan, rò rỉ các đường cong rãnh, cho thái độ bất cẩn của con người.

Nếu các loại nước thải này được dùng để xử lý thành nước uống thì chắc cho sử dụng trong xử lý nước thông có thể kết hợp với các chất hữu cơ (ví dụ như lít/min) để tạo thành các hợp chất chứa clo (clophenol …), ngay cả khi có lòng độ từ 0,5 đến 1 pin lỗ có mùi như mùi lược phẩm, xử lý tiếp sẽ không thích hợp để làm nước thống. Các chất thải có chứa dấu vì thể cứu được xử lý như: trước khi chúng phải huy.

Xử lý nước thải dầu mỏ tại Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ

Xử lý nước thải dầu mỏ tại Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ

Công ty chuyên Tư vấn, Thiết kế, Thi công lắp đặt thiết bị công nghệ Hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ

Công ty TNHH Công Nghệ TKT là Công Ty chuyên Tư vấn, Thiết Kế, Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị Hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,Thành phố Cần Thơ, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.

Hệ thống Xử lý nước thải dầu mỏ do chúng tôi Tư Vấn – Thiết Kế – Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị đảm bảo chất lượng đạt QCVN 40 2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp với giá cả cạnh tranh và phù hợp với yêu cầu thực tế của Chủ Đầu Tư.

Quý khách cần Tư Vấn – Thiết Kế – Thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị Xử lý nước thải dầu mỏ

Hãy liên hệ cho Công Ty TNHH Công nghệ TKT tại số Hotline 0888.49.3737

Hoặc cung cấp thông tin qua địa chỉ email: mail@tkttech.vn

Chúng tôi sẽ phản hồi lại các bạn trong thời gian sớm nhất.

Bạn nên xem các bài viết liên quan Xử lý nước thải dầu mỏ

XỬ LÝ NƯỚC CẤP TP HCM

XỬ LÝ NƯỚC CẤP ĐẮK LẮK

XỬ LÝ NƯỚC CẤP ĐẮK NÔNG

MÁY LỌC NƯỚC

LÕI LỌC NƯỚC

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI

HOÁ CHẤT XỬ LÝ NƯỚC

5/5 (28 Reviews)
5/5 (24 Reviews)