Xử lý nước cấp Đắk Lắk

Hiện tại nhiều hộ dân, công trình công nghiệp, dự án tại các vùng của tỉnh Đắk Lắk, Nguồn nước giếng đào, giếng khoan vẫn là nguồn nước cấp chính được sử dụng cho sản xuất cũng như trong ăn uống và sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, hiện nay nguồn nước cấp này đã không còn an toàn, tiềm ẩn nhiều nguy hại cho sức khỏe, Việc Lắp đặt hệ thống Xử lý nước cấp tại Đắk Lắk là vô cùng cần thiết để có nguồn nước đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt QCVN 01-1:2018/BYT hay các quy chuẩn nước cấp cho sản xuất công nghiệp khác.

Hệ thống xử lý nước cấp công nghiệp tại Phường Tân Tiến, Thành Phố Ban Mê Thuột, Tỉnh Đắk Lắk

Hệ thống xử lý nước cấp công nghiệp tại Phường Tân Tiến, Thành Phố Ban Mê Thuột, Tỉnh Đắk Lắk

Nguồn nước cấp từ giếng khoan tại Đắk Lắk bị nhiễm nhiều Kim loại nặng

Nguồn nước cấp từ giếng khoan tại Đắk Lắk bị nhiễm nhiều Kim loại nặng

Công Ty TNHH Công Nghệ TKT là công ty hàng đầu tại khu vực Đắk Lắk và các tỉnh Tây nguyên Kon Tum, Gia Lai, Đắk Nông và Lâm Đồng trong lĩnh vực xử lý nước cấp, nước ngầm (nước giếng khoan, giếng đào), nước mặt (nước sông, hồ).

Bộ lọc phèn tại Khu công nghiệp Hòa Phú - Xã Hòa Phú - Tp. Buôn Ma Thuột - Tinh Đắk Lắk

Bộ lọc phèn tại Khu công nghiệp Hòa Phú – Xã Hòa Phú – Tp. Buôn Ma Thuột – Tinh Đắk Lắk

Với đội ngũ Kỹ sư, Kỹ thuật ngành Công nghệ Môi trường Nước chuyên Tư vấn, Thiết kế, thi công lắp đặt các Công trình, Hệ thống Xử lý nước cấp tại Đắk Lắk, Các Hệ thống lọc nước RO, Hệ thống thiết bị bộ cột lọc composite tổng đầu nguồn xử lý nước giếng khoan nhiễm phèn cấp cho sinh hoạt, biệt thự và công nghiệp, Hệ thống bộ bình lọc, thiết bị cột lọc nước giếng khoan gia đình, Lọc Nước Nhiễm Đá Vôi tại Đắk Lắk. TKTTECH tự hào là đơn vị được các Nhà máy, Bệnh viện, Phòng khám hợp tác và nhiều hộ gia đình tại Đắk Lắk tin dùng.

1. Nguyên nhân nguồn nước cấp tại Đắk Lắk bị ô nhiễm

Nguyên nhân chính được xác định dẫn đến tình trạng này, là bởi những hóa chất độc hại chưa qua xử lý đã xả trực tiếp vào môi trường từ các nhà máy, khu công nghiệp, rác thải sinh hoạt thuộc các khu dân cư, nhiễm bẩn từ sử dụng phân bón, thuốc BVTV trong nông nghiệp, bể phốt, chất thải động vật, chất thải công nghiệp… Nguồn nước thải độc hại này, ngấm trực tiếp vào đất, gây ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm.

Lắp đặt thiết bị xử lý nước cấp sinh hoạt tại Thành Phố Ban Mê Thuột - Đắk Lắk

Lắp đặt thiết bị xử lý nước cấp sinh hoạt tại Thành Phố Ban Mê Thuột – Đắk Lắk

Do những hóa chất độc hại chưa qua xử lý đã được xả trực tiếp vào môi trường, đặc biệt là chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp, rác thải sinh hoạt thuộc các khu dân cư, chất thải động vật…

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, chăn nuôi gia súc gia cầm từ quy mô nhỏ lẻ theo nông hộ đến trang trại đang diễn ra tràn lan, phổ biến, không có quy hoạch. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm nhưng chưa xây dựng được hệ thống xử lý chất thải phù hợp đã khiến tình trạng ô nhiễm môi trường nước ngày càng trở nên trầm trọng.

Nguồn nước cấp tại Đắk Lắk bị ô nhiễm do hoạt động chăn nuôi, sản xuất

Nguồn nước cấp tại Đắk Lắk bị ô nhiễm do hoạt động chăn nuôi, sản xuất

Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt, việc nhiễm bẩn từ bể phốt, chất thải công nghiệp… cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm; về lâu dài việc sử dụng nguồn nước này trong sinh hoạt, đặc biệt là dùng trong ăn uống sẽ vô cùng nguy hiểm.

Nguồn khí thải tích tụ trên bầu khí quyển, bị hòa tan khi có mưa, cuốn theo các chất khí độc hại rơi xuống và ngấm vào mặt đất. Chất thải rắn trên mặt đất khi gặp nước mưa cũng ngấm vào đất khiến cho nguồn nước ngầm, nguồn nước giếng của người dân bị ô nhiễm và ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Tất cả những điều trên đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, nguồn nước sản xuất công nghiệp.

2. Thành Phần Tính Chất Nguồn Nước Cấp Tại Đắk Lắk Cần Xử Lý

2.1. Tính chất vật lý nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

– Nước dưới đất trên địa bàn lưu vực Srepok hầu hết không màu, không mùi, vị nhạt. Nhiệt độ của nước thay đổi 25 đến 260C, thường gặp 260C. Tuy nhiên, một số nơi như Krông Ana, Krông Nô, Lăk nước bị ô nhiễm sắt, thường có màu hơi vàng và mùi tanh.

– Độ pH của nước dưới đất thay đổi từ 5,52 đến 10,35 trung bình 7,3. Trong tổng số mẫu phân tích chỉ có 7 mẫu (chiếm 1,42%) vượt giá trị giới hạn (GTGH), giá trị lớn nhất vượt không đáng kể so với GTGH (vượt 1,2 lần).

Các mẫu vượt là: mẫu lấy tại lỗ khoan quan tắc LKC5o Phước An – Krông Pách (pH = 10,35); trạm cấp nước tập trung của buôn Ea Đua, xã Đliê Yang, huyện Krông Năng (pH = 8,84); ở huyện Buôn Đôn có 3 mẫu: xã Ea Huar có lỗ khoan LK2 (pH = 8,64), lỗ khoan LK7 (pH = 9,02), ở xã Ea Wer có lỗ khoan LK9 (pH= 9,27); xã Ea Mdroh, Cư M’gar (pH = 9,2) và ở Đrây Sap – Krông Ana (pH=8,6).

2.2. Chỉ tiêu độ cứng trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Kết quả phân tích mẫu nước cho thấy độ cứng của nước dưới đất thay đổi từ 7,5 đến 450,07 mgCaCO3/l, trung bình 101,0 mgCaCO3/l. Như vậy, nước dưới đất trên lưu vực Srepok thuộc nước rất mềm đến mềm.

Tuy nhiên, theo tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch ban hành theo Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT của Bộ Y tế thì GTGH cho phép của độ cứng là 350 mg/l. Nếu theo Tiêu chuẩn này thì có một số mẫu nước có độ cứng vượt GTGH, chúng phân bố ở các xã Krông Na, Ea Wer và thị trấn Buôn Đôn của huyện Buôn Đôn và một số khu vực thuộc huyện Ea Sup, Cư Jút, Đăk Mil và Chư Prông (Gia Lai).

Như vậy, nước dưới đất có độ cứng cao thuộc các khu vực nêu trên chủ yếu là nước trong trầm tích Jura, có phông độ cứng cao hơn so với tầng chứa nước khác. Nguyên nhân độ cứng của nước cao là do các lớp sét vôi chứa trong trầm tích Jura bị thủy phân, làm tăng hàm lượng bicarbonat và calci trong nước.

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Cư M'gar - Đắk Lắk

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Cư M’gar – Đắk Lắk

2.3. Chỉ tiêu độ khoáng (TDS) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Độ khoáng hóa của nước dưới đất (chất rắn tổng số) thay đổi từ 20,0 mg/l đến 840,0 mg/l, trung bình 165,3 mg/l. Trong số mẫu nước đã phân tích cho thấy chưa có mẫu nào có tổng độ khoáng hóa vượt quá 1.000 mg/l (tiêu chẩn cho phép là 1.500 mg/l). Như vậy, nước dưới đất trong lưu vực Srepok thuộc loại siêu nhạt đến nhạt, chủ yếu là nước siêu nhạt.

2.4. Hàm lượng Amoni (NH4+) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Amoni thay đổi từ không phát hiện đến 0,3 mg/l, trung bình 0,032 mg/l. Trong số các mẫu nước đã phân tích có 46 mẫu hàm lượng Amoni vượt GTGH. Số mẫu vượt phân bố như sau: 8 mẫu phân bố ở huyện Lăk, 8  mẫu phân bố ở huyện Krông Ana, tập trung vào Buôn Tua A, Thôn 1, UBND xã – Đrây Sap, thị trấn Buôn Trấp, Mbla – Ea Bông, 02 mẫu ở huyện M’Đrăk, 9 mẫu ở huyện Ea Kar.

Ngoài ra, chúng còn phân bố rải rác ở thành phố Buôn Ma Thuột, các huyện Cư Kuin, Cư M’gar, Krông Bông (Đăk Lăk); huyện Chư Prông (Gia Lai) và huyện Đăk Mil (Đăk Nông).

Một điều đáng lưu ý là, với 227 mẫu phân tích trước năm 2005 thì chỉ có 10 mẫu (chiếm 4,4%) có hàm lượng Amoni vượt GTGH, trong khi đó với 154 mẫu phân tích năm 2008 thì có tới 30 mẫu (chiếm 19,5%) có hàm lượng Amoni vượt GTGH. Như vậy, hàm lượng Amoni trong nước dưới đất ở một số vùng trong lưu vực Srepok tăng nhanh theo thời gian và diện tích.

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Ana - Đắk Lắk

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Ana – Đắk Lắk

2.5. Hàm lượng Nitrit (NO2-) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Nitrit trong nước dưới đất thay đổi từ không phát hiện thấy đến 3,02 mg/l, trung bình 0,04 mg/l, thấp hơn nhiều so với GTGH (1,0 mg/l). Trong số 494 mẫu phân tích có 3 mẫu có hàm lượng Nitrit vượt GTGH cho phép từ 1,1 lần đến 3,02 lần, đó là các mẫu tại thị trấn Ea Sup.

Nước dưới đất khu vực lỗ khoan LK28T trong trầm tích Jura có mức độ ô nhiễm Nitrit tăng nhanh theo thời gian. Kết quả phân tích nước năm 2003 có hàm lượng Nitrat là 0,01 mg/l, năm 2007 là 0,08 mg/l và đến năm 2008 tăng lên 1,11 mg/l, lúc này nước đã bị ô nhiễm Nitrit

2.6. Hàm lượng Nitrat (NO3-) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Nitrat trong nước dưới đất thay đổi từ không phát hiện đến 184,4 mg/l, giá trị trung bình 8,0 mg/l. Trong số 494 mẫu phân tích có tới 45 mẫu hàm lượng Nitrat vượt GTGH (chiếm 9,1%). Trong số 45 mẫu vượt GTGH, chúng phân bố: ở Cư M’gar, Krông Pach, Ea Kar, thành phố Buôn Ma Thuột, Cư Kuin, Buôn Đôn, Cư Jút, Đăk Mil. Hàm lượng Nitrat cao trong nước thường gặp ở huyện Ea Kar, có nơi vượt tới 12,2 lần so với GTGH cho phép.

Cũng như thông số Amoni, sự ô nhiễm Nitrat nước dưới đất có sự tăng nhanh theo thời gian. Cụ thể, với 277 mẫu phân tích trước năm 2005 thì chỉ có 12 (chiếm 4,3%) mẫu hàm lượng Nitrat vượt GTGH (vượt cao nhất 2,5 lần), trong khi đó với 154 mẫu phân tích năm 2010 thì có tới 24 mẫu (chiếm 15,6%) hàm lượng Nitrat vượt GTGH (vượt cao nhất 12,2 lần – tổ An Cư, thị trấn Ea Kar, huyện Ea Kar).

Như vậy, nước dưới đất trong lưu vực Srepok có mức độ ô nhiễm Nitrat tăng nhanh theo thời gian và diện tích.

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Ea Kar - Đắk Lắk

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Ea Kar – Đắk Lắk

2.7 Hàm lượng Clorua (Cl-) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Clorua có hàm lượng thay đổi từ 0,53 đến 186,13 mg/l, giá trị trung bình khoảng 26,5 mg/l. Như vậy, trong số các mẫu nước dưới đất đã phân tích trong lưu vực Srepok, không có mẫu nào có hàm lượng Clorua vượt quá GTGH cho phép, giá trị lớn nhất là 186,13 mg/l chỉ bằng hơn nửa GTGH cho phép (GTGH: 250 mg/l).

2.8. Hàm lượng Sulfat (SO42-): trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Sulfat trong nước dưới đất thường nhỏ, thay đổi từ không phát hiện thấy đến 196,84 mg/l, thường gặp < 2,0 mg/l, nhỏ hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép (400 mg/l). Tức là nước dưới đất thuộc lưu vực Srepok hoàn toàn chưa có dấu hiệu ô nhiễm Sulfat.

2.9. Hàm lượng sắt tổng cộng (Fe2+,+Fe3+) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Tổng hàm lượng ion sắt biến đổi từ không phát hiện đến 8,18 mg/l, thường gặp nhỏ hơn 0,5 mg/l.

Tuy  nhiên,  nếu  theo  Tiêu  chuẩn  nước sạch  của  Bộ  Y  tế  (Quyết  định  số 09/2005/QĐ-BYT) thì nước có hàm lượng tổng sắt (Fe2++Fe3+) > 0,5 mg/l, khi sử dụng cho ăn uống sinh hoạt thì cần phải xử lý. Nếu tính theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, thì với 494 mẫu đã phân tích có tới 74 mẫu (chiếm 13,6%) có hàm lượng sắt vượt quá 0,5 mg/l. Nước dưới đất có hàm lượng tổng sắt >0,5 mg/l thường phân bố ở Buôn Đôn, Ea Súp, Krông Ana, phía tây thành phố Buôn Ma Thuột, Krông Buk, Ea Kar, Cư M’gar, Lăk và Cư Jút.

Về hàm lượng nguyên tố vi lượng, kim loại nặng ở trong nước dưới đất thuộc lưu vực Srepok, theo kết quả phân tích cho thấy hầu hết chúng đều có giá trị thấp, nằm trong giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn hiện hành. 

2.10. Hàm lượng Florua (F) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Qua kết quả phân tích của 377 mẫu nước cho thấy hàm lượng Florua trong nước dưới đất thay đổi từ 0,001 đến 1,927 mg/l, trung bình 0,122 mg/l, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép.

2.11. Hàm lượng Xianua (CN) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Với kết quả phân tích của 377 mẫu nước dưới đất cho thấy hàm lượng Xianua thay đổi từ 0,0001 đến 0,006 mg/l, trung bình khoảng 0,002 mg/l, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép (GTGH: 0,01 mg/l).

2.12. Hàm lượng Phenol trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Phenol trong nước dưới đất thay đổi từ 0,0001 đến 0,0019 mg/l, trung bình 0,0006 mg/l. Trong tổng số 377 mẫu phân tích có 5 mẫu (chiếm 1,3%) vượt GTGH.

2.13. Hàm lượng Asen (As) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Qua kết quả phân tích của 1.514 mẫu nước cho thấy hàm lượng Asen trong nước dưới đất tỉnh Đăk Lăk thay đổi từ <0,001 đến 0,10 mg/l, thường gặp từ 0,001- 0,002 mg/l. Trong số mẫu đã phân tích có 7 mẫu vượt giá trị giới hạn theo QCVN (GTGH: 0,05 mg/l), tập trung ở các huyện Buôn Đôn, Ea Súp, Krong Bông, Krong Pak, Lak.

2.14. Hàm lượng Cadimi (Cd) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Kết quả phân tích của 377 mẫu nước cho thấy hàm lượng Cadimi dao động từ 0,0002 đến 0,0067 mg/l, trung bình khoảng 0,0019 mg/l. Trong số mẫu phân tích có 2 mẫu tại các lỗ khoan vùng Buôn Đôn (thuộc đề án đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Buôn Đôn) có hàm lượng Cadimi vượt GTGH cho phép từ 1,22 đến 1,34 lần tập trung ở ở xã Tân Hoà (0,0061 mg/l) và lỗ khoan ở xã Ea Bar (0,0067 mg/l).

2.15. Hàm lượng Chì (Pb) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Chì trong nước dưới đất thay đổi từ 0,0001 đến 0,082 mg/l. Trong số 377 mẫu phân tích có 5 mẫu (chiếm 1,3%) có hàm lượng Chì vượt GTGH, mẫu this nghiệm không đạt ở huyện Ea Súp và Krong Păch.

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Ea Súp - Đắk Lắk

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Ea Súp – Đắk Lắk

2.16. Hàm lượng Crôm (Cr) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Crôm trong nước dưới đất thay đổi từ 0,001 đến 0,0052 mg/l, trung bình 0,002 mg/l, thấp hơn nhiều so với giá trị giới hạn (GTGH: 0,05 mg/l).

2.17. Hàm lượng Đồng (Cu) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Kết quả phân tích của 377 mẫu nước dưới đất cho thấy hàm lượng Đồng thay đổi từ 0,0001 đến 0,009 mg/l, trung bình 0,001 mg/l, thấp hơn nhiều so với giá trị cho phép (GTGH: 1,0 mg/l).

2.18. Hàm lượng Kẽm (Zn) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Kẽm qua kết quả phân tích của 377 mẫu nước cho thấy chúng thay đổi từ 0,001 đến 0,783 mg/l, trung bình 0,045 mg/l, thấp hơn nhiều so với giá trị giới hạn cho phép (GTGH: 3,0 mg/l).

2.19. Hàm lượng Kẽm (Zn) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Qua kết quả phân tích mẫu nước cho thấy hàm lượng Mangan trong nước dưới đất thay đổi từ 0,008 đến 4,452 mg/l, trung bình 0,191. Trong số 377 mẫu phân tích có 12 mẫu (chiếm 3,1%) vượt GTGH từ từ 1,2 đến 8,9 lần. Các mẫu nước có hàm lượng Mangan vượt GTGH cho phép phân bố ở huyện Buôn Đôn, huyện  Ea Sup có 2 mẫu, Huyện Lăk có 2 mẫu, Ngoài ra có một mẫu ở thôn 12, Ea Knut, huyện Ea Kar (0,623 mg/l) và tại thôn 1, Buôn Trấp, huyện Krông Ana (0,578 mg/l).

2.20. Hàm lượng Thủy ngân (Hg) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Kết quả phân tích 377 mẫu nước cho thấy hàm lượng Thủy ngân trong nước dưới đất tỉnh Đăk Lăk thay đổi từ <0,0001 đến 0,0041 mg/l, trung bình 0,0009 mg/l, hầu hết đều đạt tiêu chuẩn cho phép.

Trong số 377 mẫu phân tích có 9 mẫu (chiếm 2,4%) có hàm lượng Thủy ngân vượt GTGH cho phép, phân bố: Huyện Cư M’gar có 4 mẫu, Huyện Buôn Đôn có 5 mẫu.

2.21. Hàm lượng Selen (Se) trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Hàm lượng Selen trong nước dưới đất hầu hết rất thấp, kết quả của 377 mẫu phân tích cho thấy hàm lượng thay đổi từ 0,001 mg/l đến 0,17 mg/l. Trong số mẫu phân tích có 10 mẫu (chiếm 2,7%) vượt GTGH từ 1,1 đến 1,7 lần.

2.22. Thuốc bảo vệ thực vật trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

theo kết quả phân tích mẫu nước tại một số lỗ khoan, thuộc đề án quan trắc quốc gia động thái nước dưới đất trong lưu vực Srepok cho thấy: dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (DDT, DDE, Lindan) đều thấp hơn giá trị cho phép.

2.23. Hàm lượng vi sinh trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Với kết quả phân tích 41 mẫu của đề tài và 43 mẫu thu thập cho thấy tổng E.coli từ thay đổi từ không phát hiện thấy đến 35.000 MPN/100ml, Coliform từ không không phát hiện thấy đến > 180.000 MPN/100ml, vượt nhiều lần so với GTGH cho phép (Coliform: 3 MPN/100ml, tổng E.coli: không có).

Trong tổng số 84 mẫu phân tích có tới 51 mẫu vượt về E.Coli (chiếm 60,7%) và 35 mẫu vượt về Coliform (chiếm 41,7%).

Nguyên nhân nước dưới đất trong lưu vực Srepok bị ô nhiễm vi sinh là do điều kiện vệ sinh một số giếng dân dụng còn kém, mặt khác phía trên các tầng chứa nước là vỏ phong hóa bazan có khả năng thấm nước, nên mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nước không cao.

2.24. Hàm lượng phóng xạ trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Kết quả phân tích 4 mẫu nước trong bazan khu vực thành phố Buôn Ma thuột do Viện Hạt nhân Đà Lạt phân tích được thể hiện trong bảng

TT Ngày lấy mẫu Tổng hoạt độ alpha (Bq/l) Tổng hoạt độ bêta Bq/l) Hoạt độ riêng (Bq/L)
40K 226Ra U
1 23/4/2007 0,035±0,009 0,396±0,079 0,36±0,04 0,016±0,003 0,02±0,003
2 20/9/2007 < 0,005 0,102±0,02 0,84±0,09 0,014±0,011 < 0,005
3 23/4/2007 0,012±0,004 0,451±0,09 0,41±0,04 0,003±0,002 0,004±0,001
4 20/9/2007 < 0,005 0,191±0,038 0,90±0,10 0,018±0,004 0,007±0,003

Từ kết quả của bảng trên cho thấy hàm lượng các hoạt độ phóng xạ trong nước dưới đất có giá trị thấp hơn nhiều so với QCVN.

2.25. Chất da cam/điôxin trong nguồn nước cấp tại Đắk Lắk

Một điều cũng đáng lưu ý là ô nhiễm nguồn nước có thể còn gây ra bởi di sản của chiến tranh. Theo tài liệu nghiên cứu công bố gần đây, trong thời kỳ 1961 -4/1975, quân Mỹ và đồng minh đã sử dụng gần 100.000 tấn chất độc hóa học, trong đó có 57.000 tấn là chất da cam/điôxin trên diện tích khoảng 3 triệu ha ở Việt Nam, trong đó có diện tích lưu vực Srepk.

3. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm cấp cho sinh hoạt và công nghiệp tại Đắk Lắk cần xử lý

Nguồn nước ngầm tại Đắk Lắk Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 – 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua – Magie, Can xi hay Natri.

Theo kết quả phân tích hàng trăm mẫu nước của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên từ nước giếng ngầm, giếng đào đến nước bề mặt của các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, có trên 83% mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh.

Thực trạng nguồn nước cấp từ các giếng khoan, giếng đào tại Đắk Lắk ngày càng bị ô nhiễm

Thực trạng nguồn nước cấp từ các giếng khoan, giếng đào tại Đắk Lắk ngày càng bị ô nhiễm

Theo kết quả từ 30 mẫu thử nghiệm chất lượng nước giếng đào khu vực ngoại ô TP. Buôn Ma Thuột, được lấy từ 5 xã, phường thuộc Thành phố gồm: xã Hòa Thắng, xã Cư Êbur, xã Hòa Thuận, phường Thành Nhất và phường Khánh Xuân của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên và Công ty Cổ phần cấp nước Đắk Lắk ngày 24/11/2020 cho thấy: có 30/30 mẫu có chỉ số E. Coli và Coliform vượt ngưỡng tiêu chuẩn (Tiêu chuẩn QCVN01-1:2018/BYT là E. Coli <1/100 ml và Coliform < 3/100 ml), trong đó có 23/30 mẫu E. Coli > 20/100ml và 23/30 mẫu Coliform > 150/100m.

Sự phát hiện vi khuẩn E. Coli cho thấy nguồn nước đã có dấu hiệu ô nhiễm phân. E. Coli có thể gây tiêu chảy, ở vài bệnh nhân vi khuẩn này có thể gây rối loạn máu và suy thuận, thậm chí tử vong.

Ngoài ra, kết quả thử nghiệm cũng cho thấy có 23/30 mẫu có chỉ số Nitrat (NO3) dao động từ 2,27÷167mg/l tính theo N, vượt ngưỡng tiêu chuẩn hơn 80 lần (Tiêu chuẩn QCVN01-1:2018/BYT; NO3 ≤ 2mg/l tính theo N).

Hàm lượng Nitrat trong nước khá cao có thể gây độc hại với người, vì nitrat có khả năng chuyển hóa thành nitrit trong hệ thống tiêu hóa, nitrit oxy hóa sắt trong Hemoglobin của các tế bào hồng cầu biến thành Methemoglobin mất khả năng vận chuyển oxy, gây bệnh xanh xao thiếu máu. Nếu sử dụng lâu dài nguồn nước nhiễm Nitrat sẽ không có lợi cho sức khỏe con người, có khả năng gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm như ung thư…

4. Liên hệ đơn vị Xử lý nước cấp cho sinh hoạt và công nghiệp tại Đắk Lắk và các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên

Công ty TNHH Công Nghệ TKT là đơn vị chuyên tư vấn, thiết kế, thi công lắp đặt Hệ thống, thiết bị xử lý nước cấp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói chung

Hệ thống, thiết bị xử lý nước cấp tại Đắk Lắk do chúng tôi tư vấn, thiết kế, thi công lắp đặt đảm bảo chất lượng về các Quy chuẩn kỹ thuật và giá cả cạnh tranh, phù hợp với nhu cầu sử dụng thực tế của mỗi khách hàng, chủ đầu tư.

Quý khách cần tư vấn, thiết kế, thi công lắp đặt Hệ thống, thiết bị xử lý nước cấp tại Thành phố Buôn Ma Thuột, Thị xã Buôn Hồ, Huyện Ea Súp, Huyện Krông Năng, Huyện Krông Búk, Huyện Buôn Đôn, Huyện Cư M’Gar, Huyện Ea Kar, Huyện M’Đrắk, Huyện Krông Pắc, Huyện Krông Bông, Huyện Krông Ana, Huyện Lắk, Huyện Cư Kuin, Huyện Ea H’Leo Đắk Lắk và các tỉnh lân cận.

Hãy liên hệ ngay cho Công Ty TNHH Công nghệ TKT tại số 0888.49.3737

Hoặc cung cấp thông tin qua địa chỉ email: mail@tkttech.vn

Chúng tôi sẽ phản hồi lại các bạn trong thời gian sớm nhất.

Ngoài tư vấn, thiết kế, thi công lắp đặt Hệ thống, thiết bị xử lý nước cấp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đảm bảo chất lượng với giá thành phù hợp. Công ty TNHH Công Nghệ TKT còn cung cấp cho khách hàng của mình Máy lọc nước, Lõi lọc nước, Xử lý nước cấp tại Đắk Nông, Xử lý nước cấp tại TP.HCM, Hệ thống Xử lý nước thải, Vật tư lọc nước, Hóa Chất xử lý nước trong ngành tốt nhất, với giá thành hợp lý trên thị trường.

Một số hình ảnh về Hệ thống xử lý nước cấp Tại Đắk Lắk

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Ea H'leo - Đắk Lắk

hệ thống làm mềm nước cứng, lọc nước đá vôi trong nước Ea H’leo – Đắk Lắk

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp ở Đắk Lắk

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp ở Đắk Lắk

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp Krông Pắc - Đắk Lắk

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp Krông Pắc – Đắk Lắk

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp Huyện Lắk

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp Huyện Lắk

cột lọc, bình lọc nước đá vôi Cư Kuin - Đắk Lắk

cột lọc, bình lọc nước đá vôi Cư Kuin – Đắk Lắk

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Búk - Đắk Lắk

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Búk – Đắk Lắk

cột lọc, bình lọc nước đá vôi ở thành phố Buôn Ma Thuột

cột lọc, bình lọc nước đá vôi ở thành phố Buôn Ma Thuột

cột lọc, bình lọc nước đá vôi huyện Buôn Đôn

cột lọc, bình lọc nước đá vôi huyện Buôn Đôn

cột lọc, bình lọc nước đá vôi thị xã Buôn Hồ

cột lọc, bình lọc nước đá vôi thị xã Buôn Hồ

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp M'Đrắk - Đắk Lắk

thiết bị xử lý nước nhiễm nhiều đá vôi, làm mềm nước công nghiệp M’Đrắk – Đắk Lắk

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Bông - Đắk Lắk

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Bông – Đắk Lắk

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Năng - Đắk Lắk

lọc nước nhiễm đá vôi, canxi Krông Năng – Đắk Lắk

Bài viết liên quan đến xử lý nước cấp tại Đắk Lắk

XỬ LÝ NƯỚC CẤP TP HCM

XỬ LÝ NƯỚC CẤP ĐẮK NÔNG

Hệ thống bộ bình lọc thiết bị cột lọc nước giếng khoan gia đình ở Đắk Lắk

Hệ thống lọc và xử lý nước cấp sản xuất công nghiệp khu vực Đắk Lắk

Lọc Phèn Đắk Lắk

Hệ thống lọc nước trường học tại Đắk Lắk

Lọc Nước Cứng Nhiễm Đá Vôi Đắk Lắk

Lọc Nước Cho Quán Cafe Ở Đắk Lắk

Hiển thị 1–8 trong 9 kết quả